top of page
  • Ảnh của tác giảRuby K.

“VÙNG ĐẤT KHÔNG NGƯỜI”

Sơn Tùng (Viết để tưởng niệm Tô Ngọc)



Nhà văn Sơn Tùng.


Anh Tô Ngọc sang Mỹ năm 1992 qua “Chương trình HO” (8), sau 13 năm tù giam ở Việt Nam được gọi là “học tập cải tạo”, sự thật là bị giam không án vô thời hạn trong những trại tập trung tàn bạo kiểu cộng sản mà ông Robert Funseth, nguyên Phụ tá Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, gọi là “vùng đất không người” (no-man’s land).


Robert Funseth là người đã được Tổng thống Ronald Reagn đặc cử thay mặt chính quyền Hoa Kỳ điều đình với CSVN để trả tự do cho hàng chục ngàn người tù không án bị giam nhốt tại Việt Nam từ sau ngày chiến tranh chấm dứt vào năm 1975.


Cuộc điều đình cam go này đã kéo dài trong nhiều năm tháng cho đến khi một bản thỏa hiệp được ký‎ kết vào ngày 30.7.1989, CSVN đồng ý thả những người “học tập cải tạo” và cho họ cùng với vợ con sang Mỹ định cư nếu đã “học tập” ba năm trở lên.


Để đạt được thành quả ngoại giao đầy tính nhân đạo này của Hoa Kỳ có sự đóng góp của nhiều người và nhiều yếu tố, nhưng phải nhìn nhận ông Funseth là người đã góp công đầu. Ông không chỉ là một nhà ngoại giao tận tụy với nhiệm vụ, mà còn là một con người có tâm hồn cao thượng và đầy lòng nhân ái.


Tâm hồn cao thượng và lòng nhân ái của ông Funseth đã tỏ rõ qua bài phát biểu của ông tại “Bữa cơm Đồng Tâm” do Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tổ chức tại Vùng Hoa-Thịnh-Đốn khoảng một năm sau ngày ký kết bản thỏa hiệp thả tù.


Dưới tựa đề “Nỗi buồn và niềm vui” (SORROW AND JOY), ông Funseth nói về những nỗ lực mà ông và nhiều người khác đã trải qua để giải thoát và tái định cư những người tù cải tạo ở Việt Nam sau chiến tranh. Trong bài phát biểu đầy xúc động, ông nói về câu “No-man’s land” như sau:


“Vào mùa đông năm 1988 khi chúng ta đã thành công trong việc đạt được sự trả tự do cho nhiều tù nhân ra khỏi những trại cải tạo nhưng chúng ta chưa thành công trong việc xác định sự thỏa thuận của (CS) Việt Nam để cho phép những người này di cư sang Hoa Kỳ. Đó không chỉ là thời gian của trông đợi và hy vọng nhưng cũng là thời gian của sự bất trắc và thất vọng.


Trong thời gian này tôi đã được nghe câu chuyện sau đây từ cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất về sự dấn thân, tính kiên định, lòng trung thành, tình bạn và tình yêu trên bãi chiến trường – những nguyên tắc đạo l‎ý nền tảng làm thành các ý niệm về trách nhiệm, nghĩa vụ, kỷ luật và sự cống hiến là những cột chỉ đường thiết yếu dọc theo con đường chúng tôi phải đi theo để đạt được sự trả tự do cho tất cả những người tù cải tạo, sự đoàn tụ với gia đình và bạn hữu của họ và sự tái định cư tự nguyện của họ tại Hoa Kỳ.


Nhà văn, nhà báo Tô Ngọc.

Đó là câu chuyện của hai người lính trong cuộc Thế Chiến I. Một người bị thương nặng trên “vùng đất không người” giữa hai chiến hào của đôi bên thù địch và không thể trở về an toàn với đội ngũ của mình. Người lính kia, bạn thân của anh ta, xin phép viên thiếu úy chỉ huy cho anh ta rời đơn vị để đi cứu người bạn. Viên sĩ quan không đồng ý vì việc làm ấy cực kỳ nguy hiểm mà chưa chắc đã cứu được bạn anh ta.


Người lính, Jim, không tuân lệnh cấp chỉ huy. Chờ lúc viên sĩ quan quay lưng đi, Jim bò ra khỏi hầm và băng qua “vùng đất không người” giữa những làn đạn bắn xối xả từ phía đối phương, nhưng cũng tới được chỗ người bạn bị thương. Khi bắt đầu bò trở lại, kéo theo người bạn, Jim đã trúng đạn và cũng bị thương. Anh cố gắng bò một cách đau đớn nhưng vẫn không buông người bạn cho đến khi cả hai trở về nơi an toàn trong hầm của họ. Khi Jim quay lại nhìn người bạn, kinh hãi nhận ra anh ta đã chết.

Viên thiếu úy nói một cách tức giận: “Tôi đã bảo anh đừng đi. Bây giờ thì bạn anh đã chết và anh đã tự làm cho bị thương. Không đáng để làm như vậy.”


Nhưng, người lính trẻ và bị thương nặng khẽ rên: “Đáng lắm chứ, thưa thiếu úy. Anh ta vẫn còn sống khi tôi tới đó, và đã nói với tôi: “Jim, tôi biết thế nào cậu cũng tới tìm tôi.”


Ông Funseth nói: “Trong câu chuyện này, người lính can trường trong trận Thế Chiến Một tên là Jim, nhưng trong thời đại chúng ta, người ấy có thể là “Nguyen”.


Tại sao không? Vì chúng ta đã và đang làm mọi cách để cứu những người tù cải tạo ra khỏi “vùng đất không người”.


Nhờ những con người, Mỹ và Việt, có tâm hồn cao thượng và lòng nhân ái như vậy mà hàng ngàn tù nhân chính trị - trong đó có k‎ý giả Tô Ngọc - đã được cứu ra khỏi vùng đất hung hiểm, tàn bạo và chết chóc.


Người xưa có câu “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Tù ngày xưa so với những trại tập trung học tập cải tạo của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay chắc là “đơn giản” hơn nhiều, không “tiến bộ” như ngày nay - một thứ “địa ngục trần gian” để đày ải những con người vô tội.


Tô Ngọc, một người cầm bút lương thiện đáng kính, đã làm gì mà phải “học tập cải tạo” tới 13 năm, và nếu không được cứu ra khỏi “vùng đất không người” thì còn phải “học tập” thêm bao nhiêu năm nữa mới... tốt nghiệp?


Năm 1993, có dịp đi San Joe ở miền Bắc California, tôi tới thăm Tô Ngọc và bà mẹ anh khi họ vừa từ Việt Nam sang Mỹ được vài tháng. Tôi đã nhìn thấy dấu vết của 13 năm “học tập” trên gương mặt trầm tư của người bạn, còn đâu những nét vui tươi yêu đời ngày nào. Bà mẹ phúc hậu của anh đã nói rất ít về những năm tù tội của con nhưng thỉnh thoảng lại kín đáo thấm những giọt nước mắt của bà Mẹ Việt Nam đã chịu quá nhiều khổ đau trong chiến tranh và cả trong cái gọi là “hòa bình”.


Tôi nghĩ ông Funseth đã có l‎ý khi so sánh các trại tập trung học tập cải tạo ở Việt Nam với “vùng đất không người” trong câu chuyện về hai người lính Mỹ của cuộc Thế Chiến I.

Những kẻ thắng cuộc trong các trại tập trung cải tạo ở Việt Nam không phải là những con người đúng nghĩa. Họ đã biến thân thành những con quỷ dữ mang hình dáng “người” trong một địa ngục trần gian có thật sau cuộc chiến khốc liệt giữa những người cùng chung tổ tiên nòi giống.

Virginia Mùa Thu 2021

Sơn Tùng.


4 lượt xem0 bình luận

Bài đăng gần đây

Xem tất cả
bottom of page